Theo hành trình nhân vật Tôi trốn khỏi thành phố, cách viết và ngắt câu, đặt dấu phẩy khiến người ta cảm nhận được sự trôi qua lần lượt của không thời gian, cảnh vật, sự gấp gáp của hơi thở, của bước chân. Nó vừa đoán định, vừa vô định. Nó lúc đột ngột như một thoáng dừng nhịp tim, lúc vội vàng như đang bỏ chạy. Mình chưa thấy tiểu thuyết gia nào viết như vậy, cho đến khi đọc Trần Dần. Cảm giác ông phải chuốt từng chữ, từng chữ, rất nhiều lần cho một tác phẩm.
Trần Dần đến với mình từ hai câu thơ vô tình mình thấy được khi đọc một bài viết trên báo:
Tôi khóc những chân trời không có người bay Tôi lại khóc những người bay không có chân trời
Thơ Mini
Cảm giác sửng sốt. Nhiều năm mòn đít quần trên ghế nhà trường, chưa đọc được câu nào lạ như thế. Sau đó mình tìm kiếm về ông, đọc những Thơ Mini, Cổng tỉnh rồi nhận ra cách dùng ý và dùng chữ của ông thật sự đặc sắc. Nhiều lúc các từ mới được ông đưa ra hoàn toàn chưa có trong tiếng Việt, nhiều đoạn thơ như công án của thiền khi lý luận không với tới được nhận thức, nhưng nhiều lúc là những sự thật ai cũng biết khi nói ra, nhưng không nói ra thì không ai nghĩ sẽ nói:
Mưa rơi, không cần phiên dịch
Thơ chọn
Đúng vậy, tiếng mưa ai cũng hiểu đâu cần phiên dịch. Và vì ông đã nhận “lời nói bao giờ cũng là một hối hận”.
Thơ Trần Dần như cú đấm. Khao khát và mãnh liệt. Ông là một tay chơi chữ đỉnh cao, tự thân chữ đã mang ý nghĩa.
Những ngã tư và những cột đèn là một tiểu thuyết, không nằm trong thế mạnh viết thơ của ông và mình bắt đầu đọc vì Trần Dần chứ không phải vì mong đợi vào tác phẩm.
Nhưng hoàn toàn ngạc nhiên với câu chuyện mang màu sắc trinh thám này. Truyện rất kịch tính và chân thật với các hình ảnh sáng tối trong quá trình chuyển giao chế độ những năm 1954 tại Hà Nội. Nơi mà bên Cộng sản tới tiếp quản, những người phục vụ chế độ cũ có hai con đường, “hồi chánh” hoặc xuống Hải Phòng lên tàu vào Nam. Trong quá trình chuyển giao lộn xộn đó, cả hai bên đều có những tính toán. Bên cũ cố gắng cài cắm lại gián điệp để moi móc thông tin và âm mưu phá hoại gây mất trật tự an ninh còn bên mới cố gắng nhanh chóng ổn định tình hình và xử lý các mạng lưới điệp báo của phòng nhì Pháp đã xây dựng.
Với lối viết mang tính tường thuật và nghiên cứu hồ sơ vụ án, Trần Dần khiến tác phẩm trở nên rất thật với góc nhìn từ những cuốn nhật ký và biên bản lời khai của nhiều bên.
Lời khai hay nhật ký không chỉ giúp vẽ lại tình hình mà còn vẽ lại tính cách con người rất gần gũi. Không gì thật hơn một biên bản tường thuật lời khai.
Tài năng của tác giả nằm ở khả năng đi sâu vào tâm lý nhân vật, các chuyển biến và thay đổi của nhân vật Dưỡng từ khi tính bỏ trốn (tếch) cho đến khi quay về, cuốn vào những vóng xoáy của một ổ điệp báo liên quan đến 4 người bạn và tìm lời giải để minh oan và có cơ hội bắt đầu một cuộc đời mới cùng Cốm.
Tất nhiên như phong cách “dị” thường thấy của Trần Dần, để tiếp cận tác phẩm, chúng ta cần vượt qua những lạ lùng trong cách lên xuống dòng hay dùng chữ của ông.
Hãy xem:
Kính gửi đồng chí đánh máy. Đề nghị đồng chí, nếu có thể, chú í cho mấy điểm:
– Về trình bày, cứ đánh liền không xuống dòng. Chữ đầu đánh luôn từ đầu dòng, không thụt vào. Coi như cuốn sách gồm từng ô, như ô ruộng đầy chữ. Giữa các ô có những vệt trắng, 1 dòng, 3 dòng, 5 dòng, tùy theo, như những bờ vùng, bờ thửa. Những vệt trắng này, xin để trắng, đừng đánh sao.
– Chỗ nào đề bằng con số, xin cứ đánh con số. Ví dụ: 8 giờ 30, mùa đông 1959, v.v…
– Chữ y, trong cuốn sách này, đa trường hợp viết lại là i, xin cứ đánh i.
– Có những chữ dính liền, ví dụ Cônhăc, Côtab, Lily, xin cứ để dính liền.
– Những chữ điệp nhiều nguyên âm, ví dụ xìì, khèè, v.v…, xin cứ để như thế.
Tôi đề nghị như vậy, không phải vì tôi muốn lập dị. Tôi rất cám ơn.
Còn tôi, tôi không í kiến. Vì sao, vì Trần Dần đã tuyên bố: