Cách đây gần 60 năm trong Chính đề Việt Nam, Ngô Đình Nhu đã nêu ra một trong những vấn đề rất quan trọng để Tây phương hoá (theo ông là tiến trình hấp thu khoa học kỹ thuật từ Phương Tây để chấn hưng Quốc gia) và giữ vững được độc lập đó là “khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc”. Nhờ vậy mà Nhật Bản đã vươn lên mạnh mẽ còn Thái Lan tránh được hoạ xâm lăng, trong khi người Việt không nắm bắt nên rơi vào cảnh điêu tàn.

Có những vấn đề chúng ta không thể đảo ngược, và dù ông Nhu đã nêu ra như vậy cũng như phân tích rất sâu nhưng anh em ông vẫn không đủ khả năng thực thi để đưa Việt Nam thoát cảnh nồi da xáo thịt và chậm tiến trong nhiều năm tiếp theo. Sau năm 1972 chúng ta cũng thay vì khai thác mâu thuẫn thì đã mất quyền chủ động và bị kéo vào màn chọn phe giữa các đại cường.
Có thể những bài học đó đã khiến chúng ta hình thành đường lối ngoại giao ngày nay. Luôn đặt lợi ích Quốc gia lên hàng đầu, cẩn trọng và tìm mọi cách để cân bằng các lực lượng, không bị cuốn vào tranh chấp và không chọn bên.
Mâu thuẫn giữa các cường quốc sẽ không bao giờ mất đi, lớp này đi qua, lớp khác sẽ tới, như ông Nhu tiên liệu:
“Kinh nghiệm thất bại lần trước đủ cho chúng ta thấy hoàn cảnh bi đát mà chúng ta sẽ lọt vào kỳ này, nhất là nếu kỳ này người láng giềng khổng lồ của chúng ta phát triển được dân tộc của họ.
Tuy nhiên, trong một thế giới gồm nhiều cường quốc như thế giới hiện tại, nếu loại mâu thuẫn này chấm dứt, thì thế nào giữa các cường quốc cũng nảy sinh ra những loại mâu thuẫn khác. Sự sinh tồn của các quốc gia nhỏ bé như quốc gia chúng ta căn cứ trên sự khai thác đúng mức các loại mâu thuẫn. Vì vậy cho nên, miễn là thiểu số lãnh đạo xứng danh của chúng ta còn, là chúng ta còn cơ hội phát triển. Cơ hội phát triển của chúng ta khác với cơ hội phát triển của các khối lớn, như Trung Hoa hay Ấn Độ, là ở chỗ đó.”
Đến nay, Việt Nam thiết lập đối tác chiến lược toàn diện với cả Trung Quốc và Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga và Hoa Kỳ.
Việc đối tác chiến lược toàn diện có thay đổi cơ bản mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ không thì chắc chắn là có. Tổng thống Joe Biden tiếp nhận nghi lễ ngoại giao từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – một sự chính thức thừa nhận của Mỹ vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước mắt, Việt Nam đầy cơ hội để có thể nhận được sự công nhận nền kinh tế thị trường từ Hoa Kỳ – một nỗ lực mà chính phủ Việt Nam đã theo đuổi rất nhiều nhiệm kỳ để tránh được sự bất bình đẳng cho hàng hoá và dịch vụ sản phẩm của mình khi xuất qua xứ sở cờ hoa. Tiếp đó là cơ hội mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực đầu tư công nghệ cao và an ninh quốc phòng.
Trong những năm gần đây, khi chủ nghĩa dân tộc lên cao tại Việt Nam thì thiểu số lãnh đạo phải tìm cách để tận dụng nguồn năng lượng này cho phát triển đất nước đồng thời phải kiềm hãm được sự hung hăng bộc phát của đám đông. Tâm lý ngàn năm đô hộ khiến chúng ta vừa e ngại vừa ghét Trung Hoa, nhưng không thể thừa nhận họ sẽ là một trong ít các siêu cường sẽ lãnh đạo trật tự thế giới mới trong những năm sắp tới. Điều chúng ta cần là làm sao tận dụng được cơ hội đứng bên cạnh người khổng lồ này để phát triển kinh tế đồng thời tránh bị họ nuốt trọn bằng các chiến lược ngoại giao, tranh thủ tranh chấp giữa các siêu cường một cách thông minh.
Hàng xóm không ưa có thể đổi nhưng Quốc giá láng giềng thì không được chọn.
Nên cần bang giao tốt đẹp với chính Trung Quốc và những Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nga, khối EU. Đó là biết được giá trị và vị thế quốc gia để có những đàm phán khéo léo. Tại khu vực ASEAN, nhiều dự báo và dấu hiện cho thấy Việt Nam và Indonesia sẽ là những người dẫn dắt của khối này trong tương lai. Bước tiếp theo để nâng cấp mối quan hệ với quốc gia vạn đảo là một lựa chọn tất yếu nhằm củng cố thêm vai trò của chúng ta trong khối.
Trong chính đề Việt Nam ông Nhu đã có những nhận định khá sắc sảo nhưng nhiều nhận định cũng khá tranh cãi và chưa hợp lý. Những điều chưa hợp lý đó có thể đã dẫn tới toàn bộ các quyết sách sai lầm mà sau này chế độ Ngô Đình Diệm áp dụng dẫn tới sụp đổ. Ví dụ ông thiên vị người Công giáo rõ ràng, phê phán các tôn giáo khác như Phật Giáo không khuyến khích con người dấn thân vào đời sống để phát triển Quốc gia, có thể những thiên kiến này đã dẫn tới các quyết định đàn áp cực đoan, gây kích động phong trào biểu tình của Phật giáo, góp phần đẩy chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà vào cửa tử.
Ông cũng phân tích rất hay về quá trình Nam tiến của người Việt và các thiết chế làng xã chưa bền vững ở miền Nam, có lẽ từ những đánh giá này mà ông đưa ra mô hình ấp chiến lược để cô lập Cộng sản khỏi quần chúng và tạo dựng các cơ sở phòng thủ tại địa phương. Các phân tích đa phần rất sắc sảo nhưng dường như cách thực hiện cưỡng bách và mang tính áp đặt đầy sai lầm của Ấp chiến lược đã khiến gia đình Diệm Nhu càng nhận thêm nhiều bất mãn trong quần chúng nhân dân.
Nhưng cuốn sách cũng mang lại nhiều điều bất ngờ về góc nhìn của ông Nhu.
Về trăn trở trong nghệ thuật lãnh đạo quốc gia, những đau xót khi kinh nghiệm trị quốc bị đứt gãy và phá hoại vì chiến tranh.
Hay chúng ta sau này có hối tiếc nói về bài học ngây thơ cộng sản, say mê tình đồng chí nên nhiều lúc quên mất lợi ích về mình còn ông Nhu đã nêu ra vấn đề từ cách đây 70 năm!
“Nghĩa là các lãnh tụ tối cao của khối Cộng Sản đều xem thuyết Cộng Sản là một phương tiện. Họ chế ngự phương tiện tinh thần đó – do Tây phương phát minh ra – cũng như những phương tiện vật chất khác của Tây phương. Ngược lại, các sáng tác chính trị của các nhà lãnh đạo phía Bắc, lại chứng tỏ rằng, những người lãnh đạo này còn đang say mê thuyết Cộng Sản và đương nhiên tôn nó lên hàng một chân lý. Đưa một phương tiện chiến đấu của người, lên làm một chân lý của mình, là mặc nhiên hạ mình xuống thấp hơn một bậc đối với các lãnh tụ Cộng Sản quốc tế…”
Chính đề Việt Nam là một tài liệu khá hay về góc nhìn của một trong những người có tầm ảnh hưởng quyết định trong chế độ Việt Nam Cộng hoà mới được hình thành. Những băn khoăn, đánh giá và con đường và ông Nhu lựa chọn trong một giai đoạn nhạy cảm và đau thương của dân tộc sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm và kiến thức cho chính chúng ta hiện tại và sau này.
